Để tiếp nhận văn hóa cống hiến cần văn hóa đối thoại.                KS. Doãn Mạnh Dũng  

Để tiếp nhận văn hóa cống hiến cần văn hóa đối thoại.                KS. Doãn Mạnh Dũng  

Ngày 27/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Kỷ niệm 50 năm Hội trí thức yêu nước Thành phố và 40 năm Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Lể kỷ niệm đã ôn lại quá trình hình thành và phát triển, trí ân các thế hệ trí thức, nhà khoa học, các cán bộ và hội viên Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại buổi lể có Đại diện Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, đai diện nhiều tỉnh Nam Bộ.

Nhiều vị lảnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh tham dự.

Người viết những dòng này được mời tham dự Lể kỹ niệm và nhận kỹ niệm chương “ Vì sự nghiệp – Các Hội khoa học và kỷ thuật “ sau nhiều năm tham gia Hội Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế Biển Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong lễ kỷ niệm này, một hiện tượng khác thường là các diển giả từ Trung ương đến địa phương đều nhắc đến hai chữ  “ cống hiến “ trong phát biểu của mình. Đó là điều rất mới trong xã hội Việt Nam trong nhiều năm qua.  Phải chăng, thực tiển đã giúp con người nhận thức rằng :  văn hóa “ cống hiến” sẽ giúp xã hội ổn định và tiến nhanh đến văn minh, các thành viên trong xã hội sẽ hạnh phúc hơn.

Ngược với văn hóa “ cống hiến “ là văn hóa “chiếm đoạt”. Bản chất văn hóa “ chiếm đoạt” là tìm cách biến tài sản từ người khác, từ cộng đồng trong quốc gia hay từ quốc gia khác  thành tài sản của cá nhân mình bằng các hành vi  cờ bạc, lừa đảo, trộm, cướp, tham nhũng và xâm lược.

Con người càng văn minh, hành vi “cống hiến” càng được trân trọng, còn hành vi “ chiếm đoạt “ càng bị xa dần. Nhờ  công nghệ máy tính và in-tơ-nét   từ thập niên 1980 đến 2010 xã hôi loài người thay đổi rất lớn. Con người nhanh chóng biết được sự thật của quá khứ, hiểu chính xác hơn những điều hay lẽ phải và các hạn chế của nhiều học thuyết nhất là Khoa học xã hội. Với Khoa học tự nhiên, chiếc máy chạy vận hành  được trong tự nhiên là bằng chứng hiển nhiên của sự thành công. Ngược lại, trong  Khoa học xã hội con người cần nhiều thời gian hơn để hiểu đúng về nó.

Hệ thống máy tính giúp con người nhanh hơn trong sự chọn lựa giải pháp tối ưu.

Ví dụ : Để tiêu diệt một con quái vật chống lại loài người, một viên đạn bắn ra, viên đạn đó có thể chọn bắn từ phía trên, bên phải, bên trái, phía trước hay phía sau. Các giải pháp là do con người đưa ra, còn sự chọn lựa có thể giao cho hệ thống tự động với các cảm biến cần có. Phương pháp đó được gọi là số hóa. Nhưng mọi kỹ thuật dù cao siêu cũng khó thay đổi con người.

Ví dụ : Máy phát điện bằng dòng chảy tự nhiên của người Việt Nam

Loài người biết động năng dòng chảy tự nhiên là :

E= 0.5 m v2

Trong đó :

E : là nguồn động năng của dòng chảy.

m : là khối lượng nước tác động vào máy phát điện

v  :là tốc độ của dòng chảy

Dòng chảy tự nhiên là dòng nước di chuyển liên tục trong khoảng thời gian nào đó và song song với mặt nước.

Loài người quen với kinh nghiệm truyền thống đưa cánh quạt gió nhận năng lượng của nước. Với cách lấy năng lượng trên chỉ lấy được một phần rất nhỏ “ khối lượng” di chuyển của nước. Cánh quạt gió lại có trọng lượng nên hiệu suất máy phát điện thấp. Hơn nữa hệ thống máy phát điện nằm trong nước nên chi phí cho sự kin nước thường rất cao.

Công nghệ “trống quay “ của Việt Nam đã khử được trọng lượng cánh quạt, nâng cao hiệu suất máy và nhận được hầu hết động năng của khối nước di chuyển có chiều sâu và chiều ngang. Máy phát điện được đặt trên mặt nước nên giá thành và phí bảo dưỡng thấp.

Con người quen sử dụng tốc độ cao của dòng chảy để phát điện và sử dụng các hồ thủy điện ngày càng cao.Việc nâng cao các hồ thủy điện làm nguy hiểm cho con người khi mưa lớn, lũ lụt.

Công nghệ của Việt Nam giúp con người không cần xây hồ chứa nước trên cao với các đập thủy điện mà vẩn tạo ra lượng điện cực kỳ lớn phục vụ cho con người.

Công nghệ “ trống quay” không thể do máy móc nghĩ ra mà phải do con người tìm ra. Quá trình khám phá Khoa học tự nhiên vẩn phải sử dụng kiến thức cơ bản với sự sáng tạo từ con người.

Sự thiếu ý chí nghiên cứu Khoa học và chờ đợi  sự hổ trợ của trí tuệ nhân tạo chỉ giúp con người nhận nhiều hơn những chiếc bánh ảo của chính mình và phải ăn bánh thật từ người khác và phải trả bằng đồng tiền ít ỏi từ túi mình.

Trong buổi lể kỹ niệm, một bàn tròn đối thoại được tổ chức với 3 ngành nghề mũi nhọn của xã  hội : Vật lý, Y tế và Tin học. GS-TS Lê Minh Triết – Chủ tịch Hội Vật lý Tp. HCM tỏ ra nuối tiếc vì tình trạng người dân Thành phố Hồ Chí Minh gian truân, chịu đựngngập lụt khi mưa lớn trong những ngày gần đây.

Sự nuối tiếc của giới trí thức là từ lương tâm, vì muốn hay không  giới trí thức  phải chịu trách nhiệm  trước những dự án quy hoach và quản trị của Tp. HCM.

Văn hóa “ cống hiến” đã sớm hình thành trong văn hóa Việt Nam. Cách đây gần 200 năm, ông Nguyễn Đình Chiểu ( 1822-1888 ) hay gọi là Đồ Chiểu sinh ra ở đất Gia Định, mù mắt vì khóc mẹ  nhưng vẩn chọn con đường “ cống hiến” bằng cách dạy học và sáng tác hình tượng Lục Vân Tiên. Hiếu với cha mẹ, yêu con người , ham học, yêu công bằng, dám xã thân vì nghĩa  là truyền thống của người dân  Nam Bộ. Sự cống hiến của Đồ Chiểu là sự cống hiến trí tuệ, đó là tấm gương lớn mà ông đã để lại cho đời sau.

Để văn hóa “ cống hiến” thành hiện thực, giải pháp quan trọng nhất là “ đối thoại” giữa những người có quyền lực và dân.

Mọi dự án đều cần 2 loại trí tuệ : Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội.

Trên đời có mấy ai giỏi cả 2 lỉnh vực trên. Vì vậy, đối thoại giúp xã hội nhanh chóng tìm được giải pháp tối ưu để sử dụng nguồn Tài nguyên thiên nhiên và đồng tiền vốn nhỏ bé của đất nước.

Xưa Voltaire – nhà triết học Pháp ( 1694-1778 )từng nói :

“Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh, nhưng tôi sẵn sàng hy sinh tánh mạng để bênh vực quyền tự do phát biểu ý kiến của anh” . ( Trg 206 – Câu chuyện triết học – Will Durant, Cty Sách Thời đại và NXB Hồng Đức -2014).

Đối thoại là giải pháp công khai và minh bạch để chọn dự án tối ưu cho một thành phố văn minh và hiện đại./.