Đề xuất luồng và cảng biển Trần Đề. KS. Doãn Mạnh Dũng ( Hội KHKT TP. HCM)
Bố cục Cảng cửa ngõ Trần Đề cho ĐBSCL
Kinhtebien online :
Cuối năm 2012, bản độ biển cửa Trần Đề được Nhà nước xuất bản. Đây là tài liệu để tác giả định lượng, tính toán và đề xuất Cảng cửa ngõ Trần Đề cho ĐBSCL.
Tài liệu hoàn toàn đủ sức thuyết phục các nhà khoa học trong và ngoài nước, các nhà quản lý Nhà nước.
Mô hình này giúp tiếp nhận tàu biển 3 vạn tấn vào cảng cứng, các tàu sông 1 vạn tấn không cần nâng cấp vẩn có thể ra vào cảng cứng an toàn. Hình thành khu vực chuyển tải cho tàu dầu, than 175.000 DWT. Khu vực xây dựng cảng 3 vạn tấn, không giải tõa đất của dân. Người dân có cơ hội tham gia hệ thống logictic sau cảng bằng mảnh đất hiện có của mình. Để có sản phẩm này,tác giả phải nghiên cứu các quy luật tự nhiên của vùng đất Nam Bộ, tập quán sản xuất nông nghiệp và lúa hàng hóa Nam Bộ, đi theo ghe đường sông từ Tp. HCM đến các tỉnh miền Tây, đi theo tàu Sông Thương qua cửa Định An, khảo sát toàn bô tuyến bờ biển từ Vũng Tàu đến Hà Tiên. Thời gian nghiên cứu từ đầu thập niên 1990 nến 12/2012 khi Nhà nước công khai phát hành bản đồ chi tiết 1/50.000 vùng mặt nước cửa Trần Đề. Một đề xuất này cần 20 năm lao động nghiêm túc.
Tác giả tin rằng, với tài liệu này, tác giả đã hoàn thành nghĩa vụ nghiên cứu cảng Biển phía Đông cho ĐBSCL
Bài số 46, báo KHPT 1/13(1527) ngày 04/1/ 2013.

Bản in, báo KHPT
Dự án luồng và cảng biển Trần Đề được đề xuất ở đây có cầu cảng cho tàu 30.000 DWT và vùng chuyển lải loại tàu 175.000 DWT. Dự án đã tính đến thị trường vận tải hàng hóa cho Pnôm Pênh và có tiềm năng quy hoạch thành cụm nhà máy lọc hóa dầu cho tàu biển trong khu vực.
Bố cục tổng thể cảng biển được chia ra các khu chức năng chính mà chúng phối hợp hổ trợ cùng nhau trở thành một khu cảng biển phức hợp tài đầu cửa Trần Đề, bên tả ngạn tại bãi cát ở ngoài khơi Cù Lao Dung- Sóc Trăng. Đầu tiên là khu cầu cảng cho tàu 30.000 DWT nằm ngay mép bờ biển Cù Lao Dung, nhằm phục vụ việc xuất khẩu gạo và phân đạm, xuất nhập khẩu công-ten-nơ và sắt thép, vật tư xây dựng. Khu cảng này có diện tích mặt nước 2.000 ha, có thể xây dựng lên đến 16 km cầu bến, và đến 1.400 ha mặt nước dành cho vùng neo chuyển tải, có khả năng xây đến 64 cầu tàu cho tàu 30.000 DWT với vai trò của một cảng tổng hợp.
Việc hình thành tổng kho thóc tại Cù Lao Dung là một cơ hội để hình thành Ngân hàng thóc nhằm cải cách toàn bộ hệ thống thương mại lúa gạo cho ĐBSCL theo nguyên tắc chuyên nghiệp hóa từng khâu trong quá trình trồng trọt, thu hoạch , tồn trữ, chế biến, vận tải sông biển, xuất khẩu, nghiên cứu khoa học…, đồng thời chia sẽ lợi ích một cách công bằng với lao động đã cống hiến trong từng khâu trong sản xuất và dịch vụ.
Kế tiếp là khu cảng chuyển tải cho tàu lớn nhất 175.000 DWT, nhằm chuyển tải than cho các nhà máy nhiệt điện tại ĐBSCL. Thêm vào đó, khu chuyển tải này có thể kết hợp cho việc nhập hàng của nhà máy lọc dầu ( dự kiến sẽ xây dựng kết hợp trong dự án ), với diện tích mặt nước sử dụng chuyển tải là 544 ha và độ sâu -20,93 m. Độ sâu của vùng chuyển tải than và dầu, được thiết kế tương đương độ sâu eo Malacca -21,2m, đạt yêu cầu tối ưu cho tàu dầu từ Trung Đông về Đông Nam Á.
Trong phạm vị dự án cũng định vị nhà máy lọc dầu và đường ống nhập dầu từ cảng cho nhà máy một cách khoa học giúp tạo lợi thế cạnh tranh trong thương mai. Vị trí nhà máy lọc dầu Trần Đề với diện tích rông 1.200 ha tại khu vực Cù Lao Dung, thêm lợi thế nằm không xa đường hàng hải Đông Nam Á- Bắc Á sẽ thật sự thu hút nhà đầu tư. Nhà máy lọc dầu được xây dựng tại đây sẽ đóng góp thiết thực trong việc cung ứng dầu cho tàu biển quá cảnh trong khu vực. Ngoài ra , một khi kênh Kra của Thái Lan được thực hiện thì vị trí Trần Đề sẽ là lợi thế rất lớn trong vấn đề cung ứng dầu cho tàu viễn dương.
Dự án luồng và cảng Trần Đề được đề xuất trên nền tảng sự phát hiện mới nhất về những quy luật bồi lấp bờ biển Đông Việt Nam. Đó là quy luật hình thành hệ thống đê biển bằng cát ở vịnh Cam Ranh, vịnh Vân Phong và tại cửa Trần Đề. Người Việt Nam, ai cũng biết vịnh Cam Ranh nhưng ít ai quan tâm sự hình thành vịnh Cam Ranh. Khi nghiên cứu vịnh Cam Ranh và vịnh Vân Phong , chúng ta thấy vịnh trên hình thành và được bảo vệ bằng đê biển bằng cát.
Đê biển bằng cát tại vịnh Cam Ranh dài 17 km, có phương vị 150 độ . Đê phía Bắc cao 34m, phía Nam cao 31-32 m. Đê cát luôn luôn được bồi lấp từ hướng Bắc. Phía Nam của đê có độ sâu ổn định. Đê cát tại vịnh Cam Ranh có một đầu phía Bắc là đất liền còn đầu phía Nam có nguồn gốc là đảo đá.
Đê biển bàng cát tại vịnh Vân Phong cũng tương tự cùng phương vị 150 độ như đê biển bằng cát tại vịnh Cam Ranh nhưng dài đến 18 km và cao đến 100 m.
Nguyên nhân của sự hình thành hệ thống đê biển bằng cát trên được giải thích như sau :
Do chênh lệch nhiệt giữa Cực Bắc và Xích Đạo, nên có dòng hoàn lưu tầng đáy di chuyển từ Cực Bắc về Xích Đạo. Vì trái đất quay từ Tây sang Đông nên dòng hoàn lưu vừa di chuyển từ Cực Bắc về Xích Đạo vừa di chuyên từ Đông sang Tây theo lực quán tính Coriolis. Dòng hoàn lưu tầng đáy đến Việt Nam có vị trí xuất phát từ Cực Bắc, nó chạy dọc theo bờ biển Nhật, Trung Quốc, đảo Hải Nam, Quảng Bình đến mũi Cà Mau. Đây là hiện tượng đặc biệt về địa lý tự nhiên trên thế giới.
Chính nhờ dòng hoàn lưu tầng đáy xuất phát từ vùng gần Cực Bắc, nên dòng này mang theo độ quán tính cao nhất và đùn cát từ đáy biển lên bờ tạo nên những đê biển bằng cát bền vững theo thời gian. Khi nghiên cứu bãi cát ngoài khơi Cù Lao Dung, chúng ta thấy chúng đồng dạng với cát bãi cát tạo ra vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh.
Trong nghiên cứu khoa học, loài người khi chưa lý giải được hiện tượng thiên nhiên thì thường bắt chước và mô phỏng theo thiên nhiên. Ta thấy luồng tàu biển vào vịnh Gành Ráy để vào cảng Sài Gòn đã ổn định hơn 100 năm. Luồng vào vịnh Gành Ráy có phương vị 147 độ ( 33 độ so với kinh tuyến). Phía Bắc luồng tàu biển vịnh Gành Ráy có con đê tự nhiên là bán đảo Vũng Tàu. Phía Nam không có đê. Cảng nước sâu tự nhiên tốt nhất Vũng Tàu là Bến Đình Sao Mai nằm phía Bắc của luồng và phía Nam bán đảo Vũng Tàu.
Luồng Trần Đề có phương vị 147. 3 độ ( 32.7 độ so với kinh tuyến ) , có con đê cát dài 17,2 km, với cao độ bình quân -1,798 m so với số 0 hải đồ. Đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên rất thú vị và đáng cho chúng ta nghiên cứu và ứng dụng.Vì vậy dự án luồng và cảng Trần Đề là sự mô phỏng luồng tàu biển vào vịnh Gành Ráy.
Dự án luồng và cảng Trần Đê được quan tâm từ đầu thập niên 1980. Bát đầu nghiên cứu từ đầu thập niên 1990, Nhờ bản đồ độ sâu luồng Trần Đề với tỷ lệ 1;50.000 của Bộ Tài nguyên và Môi trường xuất bản 11/2011 nên đến hôm nay chúng ta mới có kết quả rõ ràng về tiềm năng luồng và cảng Trần Đề. Tác giả mong muốn được hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước cũng như những ai quan tâm để biến ý tưởng trên thành hiện thực./.
