Mở một cảng cửa ngõ mới cho ĐBSCL tại cửa Trần Đề – Sóc Trăng. KS. Doãn Mạnh Dũng ( Hội KHKT Biển Tp HCM )
Kinhtebien online :Từ nhiều bản đồ xưa, KS. Doãn Mạnh Dũng tin rằng có thể hình thành Cảng cửa ngõ cho ĐBSCL. Mô hình cảng cửa ngõ đầu tiên được giới thiệu trên báo Khoa học phổ thông.
Bài số 41, báo KHPT 49/10(1424) ngày 17/12/ 2010

Bản in báo KHPT
Năm 2009, tổng hàng hóa xuất nhập khẩu của đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL) khoảng 155 triệu tấn/năm. Nhưng do hạn chế luồng ra vào tại cửa biển Định An, vì vậy các cảng ĐBSCL chỉ tiếp nhận tàu khoảng 3.000 -5.000 tấn, nên chỉ có 3-4,5 triệu tấn trực tiếp đến và đi từ ĐBSCL. Còn trên 10 triệu tấn phải đi qua Tp. HCM. Với kế hoạch xây dựng 4 nhà máy nhiệt điện tại Long Phú- Sóc Trăng, nhu cầu than cần cung cấp 13 triệu tấn/năm. Như vậy tổng nhu cầu thị trường cho ĐBSCL là 28 triệu tấn/năm, chưa kể các nhà máy nhiệt điện tại Trà Vinh và thị trường Kampuchia. Để giải quyết bài toán này, cần phải mở một cảng cửa ngõ mới tại cửa Trần Đề- Sóc Trăng.
Các nhà tư vấn đã hoạch định chuyển tải than từ tháng 4 đến tháng 9 và tại khu Thiềng Liềng thuộc vịnh Gành Ráy vào tháng 10 đến tháng 3. Kênh Quan Chánh Bố với tổng vốn đầu tư lên đến 300 triệu USD nhưng chỉ đáp ứng tàu 1 vạn tấn đày tải và tàu 2 vạn tấn giảm tải vào ĐBSCL. Tuy vậy trong tương lai kênh Quan Chánh Bố khó tránh hiện tượng luồng động như tại cửa Định An.
Dựa vào quy luật hình thành các đê biển bằng cát tại miền Trung và Nam Bộ, đồng thời dựa vào mô hình luồng tự nhiên cho tàu biển ra vào vịnh Gành Ráy đã ổn định hơn 100 năm để đưa ra mô hình cảng cửa ngõ cho ĐBSCL.
Theo tôi, cảng cửa ngõ Trần Đề nằm phía Bắc luồng Trần Đề. Luồng ra vào có độ sâu cốt luồng 12,4 m, sử dụng 3-4 m thủy triều, đáy luồng rộng 340 m cho tàu 80.000 tấn di chuyển 2 chiều. Từ cửa biển vào vùng chuyển tải than luồng dài 3.050 m. Khu vực làm hàng là vùng kín sóng gió, có độ sâu cốt luồng -16 m, hình vuông có cạnh 4 km, rộng 16 km2. Khu vực chuyển tải có thể chứa tối đa 37 con tàu loại 80.000 DWT. Năng suất vùng neo chuyển tải đạt 33 triệu tấn/năm với công suất dỡ than 3.000 tấn/ngày và khai thác 300 ngày/năm.
Từ khu chuyển vào cửa Trần Đề có cốt luồng -8,6 m, sử dụng 3-4m thủy triều, đáy luồng rộng 300 m cho tàu 30.000 DWT di chuyển 2 chiều ra vào ĐBSCL. Từ vùng chuyển tải than đến cửa Cù Lao Dung , luồng dài 30.650m.
Dự án đề xuất nói trên sẽ có các hạng mục chi phí nạo vét, chi phí làm krf chống cát di chuyển. Cần nạo vét luồng tàu lớn 80.000 DWT và luồng tàu nhỏ 30.000 DWT. Tổng nạo vét luồng là 24.773.714 m3. Với chi phí 3 USD/m3 nạo vét thì tổng chi phí cho nạo vét 634.097.142 USD. Chi phí làm kè chống cát di chuyển : dự kiến 800m kè chống cát tại đầu luồng và ngã ba vào khu chuyển than là 7.704.000 USD. Tổng chi cho dự án : 641. 801.142 USD.
Việc đầu tư có thể theo mô hình cuốn chiếu. Giai đoạn đầu chỉ đầu tư luồng chính và luồng phụ cùng khu vực neo cho 4 con tàu. Với mô hình này vốn đầu tư ban đầu chỉ cần 82.061.142 USD. Sau đó co thể mở rộng vùng neo từ 4 con tàu lên 37 con tàu.
Dự án này thỏa mãn nhu cầu chuyển tải trước mắt và từng bước hình thành khu vực cảng cố định cho ĐBSCL, mở rộng vùng đất mới. Dự án không ảnh hưởng đất đai của nhân dân, tác động ít đến môi trường, chi phí duy tu cho nạo vét luồng và cảng thấp.
Cảng cửa ngõ trên sẽ ổn định và tạo ra một khu đô thị cảng mới như thành phố Vũng Tàu cho ĐBSCL./.
