Chiến lược “ đô thị và cảng biển” song hành ở miền Trung Việt Nam. KS> Doãn Mạnh Dũng ( Hội KHKT Biển Tp.HCM)
Kinhtebien online :
Sự tàn phá cửa khẩu Cát Long ở biên giới Trung Quốc và Nepal ngày 26/8/2026 lúc 11:00 h sáng, buộc con người phải suy nghĩ lại việc xây dựng và phát triển kinh tế phải theo quy luật tự nhiên. Ở bài này, không bàn chuyện trái đất ấm dần, băng tan từ độ cao 5.000m, đổ xuống độ cao 1.830m mà cần chú ý khi thiết kế các công trình trên đường di chuyển của lũ.

Cửa khẩu Cát Long trước khi lũ

Cửa khẩu Cát Long vài giây trước khi lũ

Cửa khẩu Cát Long sau khi lũ
Cửa khẩu Cát Long do Trung Quốc định vị và thiết kế đã không tránh hướng di chuyển của dòng lũ. Nếu sớm xác định rủi ro trên thì tổn thất nhân mạng sẽ hạn chế nhiều trước thiên nhiên. Vì rất nhiều du khách bị mất tích khi tập trung làm thủ tục xuất nhập cảnh tại cửa khẩu Cát Long vào giờ cao điểm tập trung đông người nhất. Cán bộ , nhân viên người Trung Quốc tại cửa khẩu là nạn nhân đầu tiên.
Sự kiện trên làm chúng ta thật sự lo lắng đến miền Trung Việt Nam-định cư trên dãy đồng bằng ven biển , hẹp phía Đông sườn dãy Trường Sơn. Nếu bão mưa liên tục và lớn , hồ Phú Ninh bị tàn phá thì đô thị Tam Kỳ sẽ nhận nhiều tin xấu nhất vì nằm giữa dòng chảy từ Phú Ninh ra biển. Có lẽ giải pháp thực tiễn của Việt Nam là cần thu hẹp dung tích hồ Phú Ninh, vùng Nam Quảng Nam cũ cần chọn sản phẩm nông nghiệp ít sử dụng nguồn nước, mở rộng hệ thống công nghiệp, dịch vụ để tạo việc làm cho dân.
Chúng tôi tin rằng Đô thị cảng ở miền Trung gắn với cảng biển không chỉ vì mục tiêu nhập nguyên liệu, tạo việc làm cho người dân mà chính Đô thị gắn với cảng biển là gắn với giải pháp : né tránh đường thoát của lũ ra biển nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản.
Kinhtebien online trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết sau :
Bài sô 44, báo KHPT số 23/11(1449) ngày 24/6/ 2011

Bản in báo KHPT
Chiến lược “ đô thị và cảng biển song hành” ở miền Trung Việt Nam.
Vùng đất miền Trung Việt Nam là đồng bằng ven biển, nhỏ hẹp có nguồn gốc chính từ sự phong hóa của sườn phía Đông dãy núi Trường Sơn. Vùng đất này cần một chiến lược “ đô thị và cảng biển song hành” để phát triển.
Những viên gạch đỏ tạo nên thánh địa Mỹ Sơn hay Tháp Chàm được gắn với nhau bằng những kỹ thuật đặc biệt. đầy kiêu hãnh trong trí tuệ của loài người. Vùng đất này xưa từng có những “ hạm đội thủy quân lục chiến” của Chế Bồng Nga từ cảng Kẻ Thử – nay đã bị bồi lấp thuộc cửa sông Côn, trong đầm Thị Nại của Thành phố Quy Nhơn – Bình Định.
Nhưng tất cả nền văn minh và sức mạnh xưa đã đi vào dĩ vãng. Khách lãng du đến ngắm tháp Chàm, thánh địa Mỹ Sơn … không khỏi bùi ngùi nhớ đến người xưa, vang bóng một thời của nền văn hóa đỉnh cao và sức mạnh oai hùng của con người trước biển cả.
Điều gì đã làm tan rã một nền văn minh lớn ở miền Trung ?
Đất miền Trung là mãng sườn của dãy Trường Sơn. Nên việc phá rừng là sự tự vận mang tính cộng đồng. Rừng dù được trồng lại thì chỉ có một tầng, không đủ khả năng giữ nước khi mưa bão.
Nhưng để tồn tại, con người cần phải ăn. Trong cái ăn của con người, chất bột chiếm tỹ lệ lớn nhất. Muốn có chất bột thì phải trồng lúa , ngô, khoai , sắn… Để có đất trồng trọt, con người phải phá rừng. Khi mưa, bão sẽ sinh ra lũ quét, lũ ống. Con người đứng trước bão lũ thì bất lực. Chính lũ là nguyên nhân xóa đi mọi nền văn hóa và sức mạnh của quá khứ ở miền Trung. Đó là cái quy luật khắc nghiệt của miền Trung Việt Nam.
Vì vậy chúng ta có thể khẳng định miền Trung Việt Nam không thể sống dựa vào nông nghiệp. Rừng là mái nhà, là sự tồn tại cả cộng đồng. Rừng càng nhiều, mái nhà càng chắc chắn hơn, con người càng an toàn hơn. Vậy người dân miền Trung dựa vào sản xuất hay dịch vụ nào để tồn tại ?
Chúng ta biết để sản xuất hay làm dịch vụ phải dựa vào ba yếu tố chính: lao động giản đơn, tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên trí tuệ. Còn vốn giúp quy mô sản xuất lớn hay nhỏ và sức cạnh tranh ngắn hay dài. Với trình độ dân trí hiện nay, chúng ta khó mà bán chất xám để có tiền. Để có nền kinh tế tri thức, bán chất xám thu tiền, chúng ta cần nhiều thời gian. Hiện nay, giải pháp cơ bản là sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có cùng chất xám trong tầm tay để thực hiện sản xuất và làm dịch vụ.
Vậy tài nguyên thiên nhiên nào đáng quan tâm ?
Tài nguyên khoáng sản trên núi không nhiều, không tập trung tạo nên khu công nghiệp lớn. Mặt khác khai thác khoáng sản trên sườn núi sẽ gây ra nhiều hậu quả về môi trường đưa đến lũ quét và lũ ống cũng như nguồn nước uống. Tài nguyên về thủy điện chủ yếu là ở sông Ba, nhưng sự quarnlys điều hành nước không khoa học, không có sự phối hợp điều tiết nước chung trong lưu vực sông sẽ là một nguy cơ lớn cho tính mạng của con người.
Tài nguyên khoáng sản ven biển như các kim loại nặng và hiếm tập trung trong các cồn cát ven biển. Việc khai thác chúng cần đi đôi với việc trồng rừng và bảo vệ bờ biển.
Nhìn chúng khoáng sản và thủy điện ở miền Trung khi khai thác có tác động lớn đến môi trường sống. Vì vậy khi khai thác cần đưa khoa học và công nghệ vào để có hiệu quả cao. Nếu chỉ xuất khoáng sản thô, thì nguồn thu không xứng với chi phí khắc phục hậu quả của môi trường.
Tài nguyên hải sản ven bờ ngày càng ít, tỷ suất nhiên liệu dành cho đánh cá ngày càng cao.
Tài nguyên dầu khí đang giảm dần,
Tài nguyên khoáng sản khác ở Biển Đông đang trong quá trình tìm kiếm.
Nhưng tài nguyên thiên nhiên lớn nhất miền Trung là địa lý giao thông hàng hải. Vì miền Trung Việt Nam nằm ngay trên tuyến đường hàng hải thế giới: từ Đông Bắc Á đi Ấn độ, Trung Đông, Châu Âu, Úc và từ Đông Nam Á đi Mỹ.
Với miền Trung Việt Nam nên có chiến lược “ đô thị và cảng biển song hành” :
- Dân cư miền Trung nên sống tập trung ở các đô thị cảng biển. Việc sống tập trung giúp an toàn cho con người khi có bão lũ; giúp thuận lợi cho giáo dục phổ thông, dạy nghề, sản xuất và làm dịch vụ. Đất dành cho trồng rừng.
- Đô thị cảng biển cần có cảng nước sâu, kín sóng gió để giảm chi phí vận tải nguyên liệu, nhiên liệu và thành phẩm. Việc cải tạo bờ biển thành cảng nước sâu là chi phí rất lớn. Trước hết chúng ta nên sử dụng các bờ biển có yếu tố tự nhiên thuận lợi để làm cảng nước sâu. Sau đó từng bước mở rộng thêm các cảng nước sâu theo yêu cầu của thị trường. Hệ thống cảng là tiền đề hình thành trung tâm dịch vụ hàng hải ở miền Trung.
- Ví dụ :
Nên xây dựng cảng nhân tạo cho tàu 2-3 vạn tấn cho Quảng Bình để xuất Xi măng Sông Gianh với giá thành vận tải thấp nhất.
Với giao thông ở miền Trung, nên quan tâm đến các mục tiêu như sau: Thay đường sắt đơn khổ 1.000 mm, Tp. HCM- Hà Nội – Lạng Sơn thành đường đôi 1435 mm.
Nâng cấp quốc lộ 1A : Cà Mau- Tp. HCM- Hà Nội- Lạng Sơn
Phát triển các đường nhánh lên phía Lào và Kampuchia.
Chúng ta nên chú ý quan điểm chưa đúng như sau : Việc xây dựng đường Hồ Chí Minh quá sớm trong sự phát triển kinh tế miền Trung nên chưa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa tốn kém trong duy tu. Việc xây dựng đường Hồ Chí Minh chỉ nên làm sau khi đã hoàn chỉnh các đường xương cá từ Đông dãy Trường Sơn ra biển.
Với tình trạng thiếu vốn như hiện nay, chỉ nên tạm duy tu và không nâng cấp đường Hồ Chí Minh, mà nên tập trung vốn cho các dự án khác. Việc xây dựng con đường ven biển nối các khu du lịch ven biển là cần thiết, nhưng không nhất thiết là phải làm toàn bộ bờ biển miền Trung , trong khi điều thiết yếu nhất là giao thông trên trục 1A và trục xương cá nối với Lào và Kampuchia chưa hoàn thành.
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói, chúng ta cần tận dụng. Nhưng du lịch là ngành công nghiệp bị động và không thể sử dụng công nghiệp du lịch để trở thành cường quốc.
Một thành phố ven biển xây dựng đẹp ở miền Trung nhưng không thể phát triển ổn định nếu không có cảng nước sâu, kín sóng gió để không chỉ đón các tàu cá, tàu du lịch mà phải thuận lợi đón các tàu chở nguyên liệu, nhiên liệu từ nơi khác đến và đưa thành phẩm đi với giá thành thấp nhất. Vì vậy ở miền Trung Việt Nam, ‘đô thị và cảng biển song hành” là một chiến lược có tính sống còn trong quá trình xây dựng và phát triển./.
