Dầu ô nhiểm từ đâu đến bờ biển Việt Nam ?      KS. Doãn Mạnh Dũng

Dầu ô nhiểm từ đâu đến bờ biển Việt Nam ?      KS. Doãn Mạnh Dũng

Hình 1 : Tìm dòng tầng đáy bằng thí nghiệm

Kinhtebien online : KS. Doãn Mạnh Dũng là người đầu tiên phát hiện và chỉ rõ nguyên nhân sự hình thành cùng đặc điểm của dòng hải lưu chạy ngầm ở bờ biển Đông Việt Nam. Dòng ngầm như chiếc xẽng chúi xuống đáy biển xúc cát lấp các cửa sông phía Đông của Việt Nam, là động lực tạo nên đồng bằng ven biển miền Trung và Nam Bộ, tạo nên những cồn cát trắng từ Quảng Bình và làm mũi Cà Mau cong về hướng Tây, tạo nên những giồng đất cao ở ĐBSCL.

Dòng ngầm là nguyên nhân chính gây ra đuối nước khi tắm biển ở bờ biển miền Trung Việt Nam.

Nhân dịp này chúng tôi giới thiệu bản độ dòng tầng mặt ở bờ biển Đông Việt Nam trong 12 tháng.

Cánh tìm ra dòng tầng đáy bằng thí nghiệm theo hình 1 :

Dùng 2 bình nước có mặt thoáng rộng. Bõ màu vào hai binh C và X để đẻ quan sát. dùng 2 ống nhựa trong : nối nước tầng mặt 2 bình và nước đáy của 2 bình . Chiếu đèn sợi tóc phát nhiệt vào mặt thoáng bình X.

Thấy có dòng tầng mặt từ X về C và dòng tầng đáy từ C về X.

C là Cực Bắc, X là Xích đạo.

Vì có chênh lệch nhiệt giữa Xích đạo và Cực nên có dòng tầng đáy từ Cực về Xích đạo.

Kinhtebien online trân trọng giới thiệu cùng bạn độc  toàn văn bài viết :

Bản in báo KHPT

Bài số 30- Báo KHPT số 13/07( 1237 ) ngày 6/4/2007.

Đến cuối tháng 3/2007, chúng ta thu gom được hơn 1200 tấn dầu cặn ở bờ biển Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bà Rịa- Vũng Tàu, Tiền Giang, Cà Mau…

Dầu thu được là các mảng cứng vón lại từng cục. Các mảng dầu này từ đâu đến ?

Đó là điều đang làm đau đầu các nhà quản lý. Theo KS. Doãn Mạnh Dũng ( Hội KHKT Tp HCM) bằng cách phân tích các dòng chảy, chúng ta có thể biết được nơi xuất phát của các mảng dầu.

Kêt quả ban đầu xét nghiệm cho thấy, dầu gây ô nhiểm là dầu thô chưa qua chế luyện. Như vậy hướng quan tâm của chúng ta là các mỏ dầu, các đường ống dẩn dầu thô, các phương tiện chở dầu thô trên biển.

Xét về đặc tính của dầu thô, theo tài liệu của các chuyên gia dầu khí thì dầu thô có tỷ trọng dao động khá rộng từ 0,8 đến 0,99. Người ta định nghĩa tỷ trọng của dầu là khối lượng của dầu so với khối lượng của nước ở cùng thể tích và ở nhiệt độ xác định. Còn khối lượng của dầu là trọng lượng của 1 lít dầu tính bằng kílo-gram. Như vậy về nguyên tắc dầu thô nhẹ hơn nước. Nước biển lại có muối hòa tan nên dầu thô càng nhẹ và nổi dễ dàng trong nước biển.

Khi dầu từ mỏ bị tràn ra biển, dầu sẽ tạo thành lớp màng mỏng trên mặt biển và con người dể phát hiện ra nơi gây ra ô nhiễm tràn dầu. Nhưng dầu thô sau khi tiếp xúc với nhiệt mặt trời đã tự phân hủy, phần nhẹ bốc hơi và phần nặng bị chìm xuống đáy biển. Phần dầu cặn lắng chìm bị dòng chảy kéo theo và đẩy vào bờ biển Việt Nam. Vấn đề ở đây là chúng ta cần tìm ra các dòng chảy, nhất là dòng chảy ngầm ở vịnh Bắc Bộ.

Vệt di chuyển của  vật nổi trên vịnh Bắc Bộ

( Nguồn : Tình hình một số yếu tố Khi tượng- Hải Dương- Bộ Tư lệnh Hải quân 1985 )

Tháng 1

Tháng 1

Tháng 2

Tháng 2

Tháng 3

Tháng 3

Tháng 4

 

Tháng 5

Tháng 6

Tháng 7

Tháng 8

Tháng 9

Tháng 10

Tháng 11

Tháng 12

Dòng chảy mặt trên biển liên quan đến việc chạy tàu và cứu nạn. Từng tháng, trên biển, người ta thả vật nổi và ghi chép vệt di chuyển của vật nổi để tạo thành bản đồ. Nhờ bản đồ trên, người đi biển sử dụng dòng chảy mặt để tăng tốc độ chạy tàu và phán đoán vị trí tàu bị trôi dạt khi tàu chết máy.

Nếu vào tháng 1,2,3 ta thả 5 phao nổi cùng trên vĩ tuyến 19 ( giữa đảo Hải Nam) trong đó 2 phao nằm phía Tây và 3 phao nằm phía Đông đảo Hải Nam sẽ thu được kết quả : 5 phao nổi gặp nhau tại vĩ tuyến 15 ở Mộ Đức ( Quảng Ngãi ) và trôi dọc theo bờ biển về phía Cà Mau.

Cuối tháng 3, một  trong  năm phao nổi khi trôi đến vịnh Vân Phong thị bị đẩy ra khơi và bị dòng Tây Nam đẩy về phía Đài Loan.

Vào tháng 1,2,3 ta thả 5 phao nổi, 2 phao cùng vĩ tuyến 18 ( phía Nam đảo Hải Nam) trong đó 1 phao phía Đông và 1 phao phía Tây của đảo Hải Nam; 1 phao nằm ngay eo  Hải Nam; 2 phao nằm trên vĩ tuyến 21 ( phía Bắc đảo Hải Nam ) trong đó 1 phao phía Đông và 1 phao phía Tây của bán đảo Lôi Châu. Kết quả tương tự như ở trên : 5 phao nổi gặp nhau tại vĩ tuyến 15 ở Mộ Đức và trôi dọc theo bờ biển về phía Cà Mau…Cuối tháng 3, 1 trong 5 phao nổi khi trôi đến vịnh Vân Phong thì bị đẩy ra khơi và bị dòng Tây Nam đẩy đẩy về phía Đài Loan.

Dòng chảy ngầm trên biển Đông  Việt Nam

Ở  biển Đông có một dòng chảy ngầm vô cùng quan trọng và chính nó là động lực cơ bản tạo nên Đồng Bằng ven biển miền Trung và miền Nam Việt Nam.

Vấn đề này được giải thích như sau :

Do có sự chênh lệnh nhiệt giữa Xích đạo và Bắc cực nên có dòng hoàn lưu chảy tầng mặt từ Xích đạo về Bắc cực và dòng hoàn lưu tầng đáy từ Bắc cực về Xích đạo. Vì trái đất quay từ Tây sang Đông nên cả hai dòng hoàn lưu trên chịu tác động của lực quán tính Coriolis. Có nghĩa là dòng mặt lệch hướng sang phía Đông, còn dòng ngầm lệch hướng sang phía Tây. Hay nói cách khác, dòng lạnh chạy từ Bắc cực về Xích đạo vừa di chuyển theo hướng Bắc xuống Nam, vừa di chuyển theo hướng Đông sang Tây. Nói ngắn hơn là dòng lạnh chảy ngầm từ Bắc cực về Xích đạo, trượt theo bờ biển Trung Quốc, qua eo Hải Nam và trượt theo bờ biển Đông Việt Nam.

Dòng ngầm trên tải các chất dưới đáy biển từ Trung Quốc đưa xuống Việt Nam và tạo nên các đồng bằng ven biển Việt Nam. Vì lý thuyết này mà chúng ta có một kết luận giản dị : các vịnh ở miền Trung và Nam Việt Nam nếu không có cửa sông lớn thì chỉ sâu khi có miệng vịnh quay về hướng Nam.

Vì sự chênh lệch nhiệt giữa Xích đạo và Bắc cực là sự chênh lệch thường xuyên trong cả năm, nên dòng lạnh trên cũng tồn tại trong cả năm. Dòng lạnh trên mạnh nhất khi được cộng hưởng với gió mùa Đông Bắc cùng chiều. Dòng lạnh kéo các cặn dầu lắng xuống đáy biển vừa di chuyển theo hướng Bắc- Nam vừa di chuyển theo hướng Đông -Tây  nên cặn dầu tràn ngập bờ biển Việt Nam.

Bằng bản đồ thực nghiệm dòng chảy mặt và lý luận về dòng chảy ngầm, chúng ta có thể khẳng định rằng : trong tháng 1,2,3  các cặn dầu không thể từ mỏ dầu Việt Nam ( ở phía Nam) trôi ra Hà Tĩnh hay Quảng Bình. Các cặn dầu này có nguồn gốc từ Đông, Tây, Nam, Bắc đảo Hải Nam.

Để giải quyết vấn đề nhiễm bẩn môi trường biển Đông nói chung và bờ biển Việt Nam nói riêng, chúng ta cần sự hợp tác và giúp đở của chính phủ Trung Quốc cùng với các cơ quan môi trường của Liên Hiệp Quốc./.