Đi tìm một cảng Đà Nẵng mới cho tương lai.            KS. Doãn Mạnh Dũng

Đi tìm một cảng Đà Nẵng mới cho tương lai.            KS. Doãn Mạnh Dũng

 

Báo KHPT số 44/06 (1218) ngày 17/11/2006

Bản in báo KHPT

Thành phố Đà Nẵng ngày một phát triển và hiện là Trung tâm kinh tế lớn nhất miền Trung với dân số 777.100 người , năm 2005. Còn tỉnh Quảng Nam với dân số 1.463.300 người  năm 2005. Kinh tế Đà Nẵng và Quảng Nam ảnh hưởng chặt chẻ lẩn nhau. Tỷ trọng sản xuất công nghiệp ngày càng tăng nhanh ở Đà Nẵng. Năm 2000, giá trị sản xuất công nghiệp  so với nông nghiệp là 12,7 lần. Nhưng đến năm 2005, tỷ số trên là 31,3 lần. Còn ở Quảng Nam , giá trị sản xuất công nghiệp so với nông nghiệp năm 2000 là 0,65 lần nhưng đến năm 2005, tỷ lệ trên là 1,57 lần. Hay nói cách khác, cả Đà Nẵng và Quảng Nam đều tăng trưởng phát triển công nghiệp và dịch vụ. Đó là hướng đi đúng và đáng mừng. Nhưng chiến lược lâu dài, cảng biển sâu, an toàn và ngày càng mở rộng sẽ là cơ sở hạ tầng có tính chiến lược để bảo đãm cho sự phát triến ổn định miền Trung. Vì nguyên liệu nhập và thành phẩm xuất với giá thành vận tải rẽ , kể cả nguồn hải sản đánh bắt xa bờ thì mới nâng cao được lợi nhuận.

Cơn bão số 6 ngày 1/10/2006 vào Đà Nẵng đã thức tỉnh chúng ta nhiều vấn đề. Từ mô hình quy hoạch đến mô hình nhà thích hợp và an toàn cần được xem xét lại.

Khu Tiên Sa là cảng hàng khô tốt nhất Đà Nẵng có độ sâu -10,5m , tổng độ dài cầu cảng là 905m, có khả năng đón tàu lớn nhất là 30.000 tấn. Vịnh Đà Nẵng có  cửa hở  hướng Đông Bắc nên khả năng chống bão và gió mùa kém. Trong vịnh có 2 cửa sông : sông Hàn và sông Cự Đề. Vì vậy vịnh Đà Nẵng cạn. Mô hình cảng Đà Nẵng hiện tại là chưa an toàn, chưa thỏa mãn là một đầu mối giao thông lớn của một thành phố Trung tâm miền Trung.

Lượng công-ten-nơ qua Đà Nẵng năm 2000 là 22.950 TEU trong khi  Quy Nhơn là 19.660 TEU. Nhưng đến năm 2004, lượng công-ten-nơ qua Đà Nẵng là 35.410 TEU và Quy Nhơn là 38.850 TEU. Số liệu trên chứng tỏ vai trò đầu mối giao thông ở miền Trung của Đà Nẵng đã biến động ?

Để Đà Nẵng có thể tiếp tục phát huy thế mạnh của mình, một cảng hiện đại, an toàn, cô độ sâu thỏa mãn nhu cầu của thị trường, kín sóng gió là một ước mơ của nhiều thế hệ.  Ở đây, chúng ta nên hiểu cảng biển không chỉ giúp giao thương hàng hải mà đó là căn cứ cho khai thác biển bao gồm hệ thống cảng chuyên dụng, các phương tiện đánh cá, phương tiện du lịch biển, nghiên cứu biển…

Vấn đề được đặt ra là cảng mới của Đà Nẵng trong tương lai nên nằm ở đâu ?

Có phải là Tiên Sa hay Liên Chiểu … để có thể chống đỡ với các cơn bão lớn như cơn bão số 6 vừa qua ?

Căn cứ thực tiển của  miền Trung , tôi đưa ra 7 tiêu chí có tính nguyên tắc cho bố cục Cnagr biển ở miền Trung như sau:

1/ Cảng phải tránh được dòng hải lưu Bắc-Nam đi vào vùng neo đậu hay khu cầu bến nhằm giảm chi phi nạo vét hoặc không thể nạo vét được.

2/ Cảng phải tránh được gió mùa Đông Bắc, gió Tây Bắc, gió Bắc vì gió mùa Đông Bắc khi vào bờ biển Việt Nam gặp dãy Trường Sơn đã đổi thành gió Tây Bắc, gió Bắc.

3/ Cảng phải tránh gió từ hướng Đông để tránh bão. Với các Cảng phía Bắc Trung Bộ cần chú ý khả năng bão vào từ hướng Đông Nam. Đặc điểm bão biển Đông Việt Nam xoáy theo chiều ngược kim đồng hồ nên các vịnh kín hướng Đông hay Đông Nam mà hở hướng Bắc vẩn chịu tác hại của bão.

4/ Vịnh hình thành khu vực cảng phải không có cửa sông lớn, vì đó là nơi thoát sa bồi từ dãy Trường Sơn ra biển Đông.

5/ Đáy vịnh sâu  hoặc  không có đá để dể nạo vét.

6/ Luồng ra , vào cảng không nên gần bờ vì sa bồi từ đấy biển có xu hướng di động từ Đông sang Tây trên toàn bộ dãy bờ biển Đông Việt Nam.

7/ Cảng phải có khu vực neo tránh gió mùa và bão , đưa đón hoa tiêu an toàn.

Chúng ta so sánh các tiêu chí trên với thực tiển sẽ thấy như sau :

  • Vinh Dung Quất và Chân Mây hạn chế bởi tiêu chí 1.
  • Vịnh Đà Nẵng bị hạn chế bởi tiêu chí 2.
  • Các vịnh Đà Nẵng , Chân Mây, Dung Quất bị hạn chế bởi tiêu chí 3.
  • Vịnh Đà Nẵng, Dung Quất bị hạn chế bởi tiêu chí 4.
  • Vịnh Hòn La bị hạn chế bởi tiêu chí 5.
  • Cảng cá Sa Huỳnh bị hạn chế bởi tiêu chí 6.
  • Cảng Kỳ Hà bị hạn chê bởi tiêu chí 4 và 7.

Với sự phân tích trên tôi đề nghị cảng biển tương lai cho Đà Nẵng là vùng phía Nam bán đảo Sơn Trà. Vị trí trên cho chúng ta một cảng mới: sâu kín sóng gió, đủ diện tích mặt nước cho hàng trăm tàu lớn ra ,vào với mớn nước sâu tiêu chuẩn -1m như mớn nước của eo Ma-lắc-ca. Để hình thành vùng nước kín sóng gió cho cảng cần xây dựng đê chắn sóng. Đê bắt đầu từ mũi Đà Nẵng chạy về hướng Nam, song song với đường kinh tuyến , đê càng dài càng tốt. Độ sâu khu vực xây đê là -22m. Đê dài tối đa là 13 km. Đê chắn sóng được xây dựng bằng bến thùng chìm. Đó là thùng bê tông cốt thép rổng, được đúc trên ụ đà, sau đó kéo đến vị trí lắp đặt để đánh chìm và đổ cát hay đá vào trong thùng. Công nghệ trên, chúng ta có thể cơ giới hóa, sản xuất hàng loạt từ trên bờ để hạ giá thành làm đê. Khi khởi công xây dựng đê cần chú ý ngay mũi Đà Nẵng cần có lỗ thông nước  để chống lại hiện tượng nước tù động, gây ô nhiễm sau này trong khu vực vùng nước  bờ biển Mỹ Khê.

Việc xây dựng đê có thể thực hiện nhiều giai đoạn tùy nguồn tài chính. Nhưng đê càng dài thì khu vực cảng càng được mở rộng. Giai đoạn đầu chỉ cần 3-5 km , chúng ta đã có một vùng nước cho cảng lý tưởng. Khi hoàn thành 13 km đê, chúng ta sẽ có vịnh Sơn Trà kín sóng gió, sâu-21m, ổn định với diện tích mặt nước trên 100 km2 và chiều dài tuyến cầu tàu trên 22 km.

Với một mô hình cảng Đà Nẵng mới như trên, nền kinh tế Đà Nẵng chắc chắn có sức vươn lên mạnh mẽ, ổn định và vững chắc./.